Phổ biến GD pháp luật

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

1/13/2017 9:33:03 PM

Bộ luật dân sự được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015; được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.

A. BỐ CỤC CỦA BỘ LUẬT

Bộ luật có 6 phần, 27 chươngvới 689 điều, bao gồm:

Phần thứ nhất “Quy định chung” (Điều 1-Điều 157) gồm 10 chương: Chương I: Những quy địnhchung; Chương II: Xác lập, thực hiệnvà bảo vệ quyền dân sự; Chương III:Cá nhân; Chương IV: Pháp nhân; Chương V: Nhà nước CHXHCNVN, cơ quan nhànước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự; Chương VI: Hộ gia đình, tổ hơp tác và tổ chức khác không có tư cáchpháp nhân trong quan hệ dân sự; ChươngVII: Tài sản; Chương VIII: Giaodịch dân sự; Chương IX: Đại diện; Chương X: Thời hạn và thời hiệu.

Phần thứ hai“Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” (Điều158-Điều 273) gồm 4 chương: Chương XI:Quy định chung; Chương XII: Chiếm hữu;Chương XIII: Quyền sở hữu; Chương XIV: Quyền khác đối với tài sản;

Phần thứ ba“Nghĩa vụ và hợp đồng” (Điều 274-Điều 608) gồm 6chương: Chương XV: Quy định chung; Chương XVI: Một số hợp đồng thông dụng;   Chương XVII:Hứa thưởng, thi có giải; Chương XVIII:Thực hiện công việc không có ủy quyền; ChươngXIX: Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sảnkhông có căn cứ pháp luật; Chương XX:Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Phần thứ tư “Thừakế” (Điều 609-Điều 662) gồm 4 chương: Chương XXI: Quy định chung; Chương XXII: Thừa kế theo di chúc; Chương XXIII: Thừa kế theo pháp luật; Chương XXIV: Thanh toán và phân chia disản.

Phần thứ năm“Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” (Điều 663 - Điều 687) gồm 3 chương: Chương XXV: Quy định chung; ChươngXXVI: Pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân; Chương XXVII: Pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệnhân thân.

Phần thứ sáu“Điều khoản thi hành” (Điều 688 và Điều 689).

 

B. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

I.PHẦN THỨ NHẤT “QUY ĐỊNH CHUNG”

1.Về “Những quy định chung” (Chương I)

1.1. Về phạm viđiều chỉnh (Điều 1)

Bộ luật quy địnhvề phạm vi điều chỉnh theo cách tiếp cận khái quát, trừu tượng hơn so với BLDS2005, bao gồm quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cánhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhântrong các quan hệ dân sự (quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ýchí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm).

1.2. Về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (Điều3)

Bộluật không quy định các nguyên tắc cơ bản của BLDS thành một chương như BLDS2005 mà quy định thành một điều “Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự”.Trong đó, ghi nhận 05 nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, phản ánh những đặctrưng và nguyên lý cơ bản nhất của quan hệ dân sự, pháp luật dân sự, bao gồm: (1) Nguyên tắc bình đẳng; (2) Nguyên tắc tự do,tự nguyện cam kết, thỏa thuận; (3) Nguyên tắc thiện chí, trung thực; (4) Nguyêntắc tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác và (5) Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm dân sự.

BLDS 2015 không ghi nhận lại nguyên tắc tuân thủ pháp luật vànguyên tắc căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự; nguyên tắc tôn trọng đạo đức,truyền thống tốt đẹp và nguyên tắc hòa giải được quy định thành chính sách củaNhà nước đối với quan hệ dân sự (Điều 7).

1.3. Về áp dụngBộ luật dân sự (Điều 4)

Để bảo đảm sự đồngbộ, thống nhất trong xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự và để làm rõ vị trí,vai trò của BLDS, Bộ luật bổ sung quy định về mối quan hệ giữa BLDS và luậtkhác có liên quan. Theo đó BLDS là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự; luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể khôngđược trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định trong BLDS; trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng viphạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì quy định của BLDS đượcáp dụng.

1.4. Về áp dụngtập quán, áp dụng tương tự pháp luật (Điều 5 - Điều 6)

Để bảo đảm tínhkhả thi trong quy định của BLDS và luật khác có liên quan, tạo cơ chế pháp lýđầy đủ hơn trong giải quyết vụ việc dân sự, Bộ luật quy định cụ thể về việc ápdụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, theo đó:

- Tập quán là quy tắc xử sựcó nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trongquan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong mộtthời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dântộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự;

- Trường hợp các bên không có thoả thuận vàpháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụngkhông được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 3 BLDS2015. Trường hợp không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của phápluật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự. Trường hợp không thể áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụngcác nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụviệc dân sự.

2. Về “Xác lập, thực hiệnvà bảo vệ quyền dân sự” (Chương II)

Bộ luật bổ sung chương II “Xáclập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự”, quy định về giới hạn việc thực hiệnquyền dân sự, cơ chế pháp lý về thực hiện, bảo vệ quyền dân sự, trách nhiệm củacơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự. Trong đó:

2.1. Về thực hiện quyền dân sự(Điều 9)

Bộ luật bổ sung quy định cánhân, pháp nhân thực hiện quyền dân sự theo ý chí của mình nhưng không đượctrái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (Điều 3) và giới hạn việcthực hiện quyền dân sự (Điều 10); cá nhân, pháp nhân không thực hiện quyền dânsự của mình không phải là căn cứ làm chấm dứt quyền, trừ trường hợp luật có quyđịnh khác.

 2.2. Về giới hạn việc thực hiện quyền dân sự(Điều 10)

Để cụ thể hóa nguyên tắc tôntrọng lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và đểnâng cao trách nhiệm của chủ thể có quyền dân sự trong thực hiện quyền củamình, Bộ luật bổ sung quy định cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dânsự của mình gây thiệt hại cho người khác; để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặcthực hiện mục đích khác trái pháp luật; trường hợp cá nhân, pháp nhân lạm dụngquyền dân sự thì Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác căn cứ vào tính chất,hậu quả của hành vi vi phạm mà có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyềncủa họ, buộc bồi thường nếu gây thiệt hại và có thể áp dụng chế tài khác doluật quy định.

2.3. Về các phương thức bảo vệquyền dân sự (Điều 11 - Điều 13)

Để thống nhất trong điều chỉnhpháp luật về phương thức bảo vệ quyền và để tạo cơ chế pháp lý cho cá nhân,pháp nhân lựa chọn phương thức bảo vệ quyền dân sự, Bộ luật quy định cụ thểhơn, khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó cóquyền tự bảo vệ theo quy định của BLDS, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan,tổ chức có thẩm quyền thực hiện các biện pháp theo quy định của luật, trong đó:

Trường hợp cá nhân, pháp nhânlựa chọn phương thức tự bảo vệ quyền dân sự thì việc tự bảo vệ quyền phải phùhợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái vớicác nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (Điều 3);

Cá nhân,pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừtrường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

2.4. Về trách nhiệm của Tòa án, cơquan có thẩm quyền khác trong việc bảo vệ quyền dân sự (Điều 14 và Điều 15)

Để bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, phápnhân được bảo vệ kịp thời, phát huy vai trò bảo vệ công lý của Tòa án, phát huytrách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền khác trước người dân, Bộ luật bổ sungquy định tráchnhiệm của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cánhân, pháp nhân. Theo đó, trường hợp quyền dânsự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo phápluật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài; việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tụchành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định; quyết định giải quyếtvụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án; Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủyquyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trái pháp luật xâmphạm đến quyền dân sự cá nhân, pháp nhân.

Đặc biệt, Bộ luật quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưacó điều luật để áp dụng. Trường hợp này nếu không có tập quánvà không áp dụng được tương tự pháp luật thì Tòa án vận dụng nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết.

3. Về “Cá nhân” (ChươngIII)

Chương này quy định về nănglực chủ thể của cá nhân và các nội dung pháp lý khác có liên quan (giám hộ,quyền nhân thân của cá nhân, nơi cư trú, thông báo tìm kiếm người vắng mặt tạinơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết). Trong đó:

3.1. Về năng lực hành vi dânsự của cá nhân (Điều 19 - Điều 24)

Để bảo đảm tốt hơn việc tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp phápcủa cá nhân và để bao quát hơn trong quy định có liên quan đến người yếu thế vềnăng lực hành vi dân sự, Bộ luật sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau đây:

- Không quyđịnh người chưa đủ sáu tuổi thuộc diện không có năng lực hành vi dân sự;

-Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của người chưa thành niên được quyđịnh cụ thể, linh hoạt hơn theo hướng giao dịch dân sự của người chưađủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện;người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịchdân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sựphục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi; người từ đủ mười lămtuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừgiao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịchdân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồngý;

- Bổ sung quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.Theo đó, người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khảnăng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sựthì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơquan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa ánra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

3.2. Về quyền nhân thân của cánhân (Điều 25 - Điều 39)

Để cụ thể hóa các dấu hiệu vềnhân thân trong xác định tư cách chủ thể của cá nhân và để làm rõ hơn những quyền nhân thân gắn liền với lợi ích tinh thần của cá nhân nhưng chưađược quy định cụ thể trong Hiến pháp và luật khác có liên quan, Bộ luật quy định cụ thể các quyền: (1)Quyền có họ, tên (Điều 26); (2) Quyền thay đổi họ (Điều 27); (3) Quyền thay đổitên (Điều 28); (4) Quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29); (5) Quyền đượckhai sinh, khai tử (Điều 30); (6) Quyền đối với quốc tịch (Điều 31); (7) Quyềncủa cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32); (8) Quyền sống, quyền được bảo đảm antoàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 33); (9) Quyền được bảo vệ danh dự,nhân phẩm, uy tín (Điều 34); (10) Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người vàhiến, lấy xác (Điều 35); (11) Quyền xác định lại giới tính (Điều 36); (12) Quyềnvề đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 39); (13) Quyềnnhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 40).

Đồng thời, để cụ thể hóa nguyêntắc bình đẳng trong quan hệ dân sự, kịp thời tạo cơ chế pháp lý để thực hiện, bảovệ quyền, lợi ích có liên quan của người chuyển đổi giới tính, Bộ luật (Điều37) ghi nhận về việc chuyển đổi giới tính, theo đó, việc chuyển đổi giới tínhđược thực hiện theo quy định của luật, cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền,nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, cóquyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của BLDSvà luật khác có liên quan.

3.3. Về giám hộ (Điều 46 - Điều 63)

Để chế độ giám hộ cho người chưa thành niên,người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi linh hoạt, khả thi hơn và để thựchiện, bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của người được giám hộ, Bộ luật sửa đổi, bổ sungnhiều quy định liên quan, trong đó:

- Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền lựa chọnngười giám hộ cho mình khi họ ở tình trạng cần được giám hộ;

- Việc cử, chỉđịnh người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phảixem xét nguyện vọng của người này;

- Pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ và cóđiều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ thì được làmngười giám hộ;

- Việc giám hộ đối với người có khó khăntrong nhận thức, làm chủ hành vi được thực hiện theo các nguyên tắc: (i) Việcgiám hộ phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí củamình tại thời điểm yêu cầu; (ii) Người giám hộ của người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định theo sự lựa chọn của người được giámhộ trước khi họ ở tình trạng cần được giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48của BLDS, trường hợp không có người này thì Tòa án chỉ định trong số nhữngngười giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự, nếu không cónhững người trên thì Tòa án chỉ định một cá nhân hoặc đề nghị một pháp nhânthực hiện việc giám hộ; (iii) Người giám hộ của người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi có quyền, nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong sốcác quyền, nghĩa vụ của người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự;

- Ngườithân thích của người được giám hộ có quyền thỏa thuận về việc chọn cá nhân, pháp nhân khác không phải là người thân thích của người được giám hộ làm người giám sát việc giám hộ;

- Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nướccó thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch (kể cả giám hộ đươngnhiên); người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phảithực hiện nghĩa vụ của người giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về giám hộ thìđược giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.

4. Về “Pháp nhân” (ChươngIV)

Để làm rõ hơn địa vị pháp lýcủa pháp nhân trong quan hệ dân sự, đồng thời bảo đảm được tính bao quát trongđiều chỉnh về pháp nhân, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung cơ bản về điều kiện để một tổ chứcđược công nhận là pháp nhân, quyền thành lập pháp nhân, phân loại pháp nhân,các thành tố cơ bản của pháp nhân (điều lệ, tên gọi, trụ sở, quốc tịch, tàisản, cơ cấu tổ chức, chi nhánh, văn phòng đại diện), đại diện của pháp nhân,năng lực pháp luật của pháp nhân, trách nhiệm dân sự của pháp nhân, tổ chức lạipháp nhân, chấm dứt pháp nhân. Trong đó:

- Mọicá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quyđịnh khác. Pháp nhânđược thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trườnghợp pháp luật có quy định thìviệc đăng ký pháp nhân phải được thực hiện vàphải được công bố công khai; đăng ký pháp nhânbao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định củapháp luật; nếu pháp nhân phảiđăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thờiđiểm ghi vào sổ đăng ký.

Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ dosáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thànhlập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏathuận khác hoặc luật có quy định khác.

- Căn cứ vào mụcđích thành lập, hoạt động của pháp nhân, Bộ luật phân loạipháp nhân trong quan hệ dân sự theo 2 loại pháp nhân cơ bản là phápnhân thương mại (Pháp nhân thương mại là doanh nghiệp và các tổchức kinh tế khác - có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận đượcchia cho các thành viên ) và pháp nhân phi thương mại(pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghềnghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện,doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác - không có mục tiêuchính là tìm kiếm lợi nhuận, nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia chocác thành viên).

5.Về “Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơquan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự” (ChươngV)

Để cụ thể hóa nguyên tắc bìnhđẳng trong quan hệ dân sự và tạo cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ dân sự cómột bên là Nhà nước, Bộ luật bổ sung Chương V “Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trungương, ở địa phương trong quan hệ dân sự”, quy định về địa vị pháp lý, đại diệntham gia quan hệ dân sự, trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sựtrong quan hệ dân sự của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trungương, ở địa phương với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài. Trong đó:

- Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơquan nhà nước ở trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bìnhđẳng với các chủ thể khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của BLDS;

- Bộ luật cũng quy định cụ thểvề đại diện tham gia quan hệ dân sự, trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự và tráchnhiệm về nghĩa vụ của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương,ở địa phương trong quan hệ dân sự với một bên là nhà nước, pháp nhân, cá nhânnước ngoài.

6.Về “Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổchức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự” (ChươngVI)

Để quy định về chủ thể trongBLDS phù hợp hơn với tính chất của quan hệ dân sự, xác định rõ ràng địa vị pháplý của chủ thể và giải quyết những bất cập, vướng mắc liên quan trong thực tiễnthi hành pháp luật, Bộ luật quy định về hộgia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân theo cách tiếpcận mới, theo đó, trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách phápnhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổchức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bêntham gia quan hệ dân sự biết. Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợptác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không đượccác thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thểcủa quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.

Bộ luật cũng quy định cụ thể về tài sản chung của các thành viên hộ giađình, trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức kháckhông có tư cách pháp nhân và hậu quả pháp lý đối với giao dịch dân sự do thànhviên không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện.

Việc xácđịnh chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất đượcthực hiện theo quy định của Luật đất đai.

7.Về “Tài sản” (ChươngVII)

Để bảo đảm tính khái quát, dự báo và minhbạch về tài sản,Bộ luật sửa đổi, bổ sung một số quy định về tài sản, đăng ký tài sản, bất động sản và động sản,quyền tài sản. Trong đó:

- Bất động sản vàđộng sản có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai (Tài sảnhiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khácđối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch; tài sản hình thànhtrong tương lai bao gồm tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành nhưngchủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch);

- Quyền sử dụngđất là một quyền tài sản;

- Trường hợp quyềnsở hữu, quyền khác đối với tài sản được đăng ký thì việc đăng ký phải được côngkhai.

8. Về “Giao dịch dân sự” (Chương VIII)

Để tạo cơ chế pháplý điều chỉnh về giao dịch dân sự linh hoạt hơn, tôn trọng tự do ý chí của chủthể, hạn chế rủi ro pháp lý và việc tuyên bố giao dịch vô hiệu một cách tùytiện, Bộ luật sửa đổi, bổ sung một số nội dung cơ bản về điều kiệncó hiệu lực của giao dịch dân sự, hình thức giao dịch dân sự, giải thích giaodịch dân sự, đường lối giải quyết giao dịch dân sự vô hiệu, thời hiệu yêu cầutuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Trong đó:

- Chủ thể phải có năng lựcpháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xáclập;

- Việc giải quyết giao dịch dân sự vô hiệu tương đối cótính linh hoạt hơn, bảo vệ tốt hơn lợi ích của chủ thể giao dịch, nhất là bênyếu thế theo hướng, giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dânsự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện mà theo quy định của pháp luật phảido người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý có thể không vô hiệu,như: giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vidân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó...;

- Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho mộtbên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bịnhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trườnghợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên cóthể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịchdân sự vẫn đạt được;

- Quyđịnh giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệulực về hình thức thì vô hiệu. Tuy nhiên, trên cơ sở tôn trọng thực tế thựchiện giao dịch và ý chí đích thực của chủ thể trong giao dịch, bảođảm sự ổn định của giao dịch dân sự, các quan hệ liên quan và hạnchế sự không thiện chí của một bên trong việc lợi dụng việc khôngtuân thủ quy định về hình thức để không thực hiện cam kết của mình,Bộ luật quy định các ngoại lệ để Tòa án công nhận giao dịch dân sựkhông tuân thủ quy định về hình thức theo yêu cầu của một bên hoặccác bên trong giao dịch: (i) Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy địnhphải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặccác bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch; (ii) Giao dịchdân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng,chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụtrong giao dịch. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc côngchứng, chứng thực;

- Trường hợp tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyềnsau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngaytình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịchthì giao dịch với người thứ ba không bị vô hiệu. Trườnghợp này, chủ sởhữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nhưng có quyềnkhởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với ngườithứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và BTTH;

- Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vôhiệu là02 năm đối với giao dịch vô hiệu tương đối (giao dịch vô hiệu dongười chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăntrong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;giao dịch vô hiệu do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; giao dịch vôhiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; giaodịch vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức). Trường hợp này, hết thờihạn 02 năm mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịchdân sự được xác định là có hiệu lực. Đối với giao dịch dân sựvô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội và do giả tạo thìthời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

9.Về “Đại diện” (ChươngIX)

Để quy định về đại diện bảo đảm phù hợp hơn với thực tiễn giao lưu dânsự; phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của người đại diện; quyền, lợi íchcủa người được đại diện và người thứ ba, Bộ luật sửa đổi, bổ sung một số nội dungcơ bản về kháiniệm đại diện, căn cứ xác lập quyền đại diện, đại diện theo pháp luật, đại diệntheo ủy quyền, hậu quả pháp lý của hành vi đại diện, thời hạn đại diện, phạm viđại diện, hậu quả của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xáclập, thực hiện. Trong đó:

- Quyền đạidiện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện;theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhânhoặc theo quy định của pháp luật;

- Người đạidiện theo pháp luật của cá nhân, pháp nhân có thể do Tòa án chỉ định;

- Pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đạidiện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định về thời hạn đại diện, phạmvi đại diện tại BLDS;

- Người đại diện theo ủy quyền có thể là pháp nhân;

- Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt đượcmục đích của việc đại diện;

- Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện thì người đại diệntheo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích củangười được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Trường hợp không xácđịnh được thời hạn đại diện thì thời hạn đại diện được xác định theo nguyêntắc: (1) Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thờihạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó; (2) Nếuquyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đạidiện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện;

- Giao dịch dân sự do người khôngcó quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diệnxác lập, thực hiện vẫn làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện nếungười này đãcông nhận giao dịch hoặc đã biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý hoặc người này có lỗi dẫn đến việc người đã giaodịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.

10.Về “Thời hạn và thời hiệu” (ChươngX)

Để bảo đảm quy định về thời hiệu trong BLDS phù hợp với bản chất của thờihiệu trong quan hệ dân sự, bên cạnh kế thừa 04 loại thời hiệu được quy địnhtrong BLDS 2005 (thời hiệuhưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện,thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự), Bộ luật  quy định Tòa án không được tự mình áp dụng thời hiệu nếu không có yêu cầu của mộtbên hoặc các bên trong quan hệ dân sự; trường hợp một và các bên trong quan hệdân sự có yêu cầuvề việc áp dụng thời hiệu thì yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấpsơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc; người được hưởng lợi từ việcáp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từchối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

II.PHẦN THỨ HAI ”QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN

1.Về “Quy định chung” (Chương XI)

1.1. Về nguyêntắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản (Điều 158 -Điều 162)

Bên cạnh quyền sở hữu, Bộ luật đã bổ sungquyền khác đối với tài sản (quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tàisản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác), bao gồm: quyền đối vớibất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt. Trong đó, về mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyềnkhác đối với tài sản, về thực hiện quyền và thời điểm chuyển quyền, Bộ luật quyđịnh:

 - Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sảnđược xác lập, thực hiện trong trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định;quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu đượcchuyển giao, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định khác;

-Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưngkhông được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợiích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác; chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trongphạm vi quyền được quy định tại BLDS, luật khác có liên quan nhưng không đượcgây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích côngcộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác; chủ thể có quyền khácđối với tài sản cũng phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình,trừ trường hợp có thoả thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc BLDS, luật kháccó liên quan quy định khác;

-Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khácđối với tài sản thực hiện theo quy định của BLDS, luật khác có liên quan;trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên;trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyềnsở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao.

Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyềnhoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản. Trường hợp tài sản chưađược chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc vềbên có tài sản chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

1.2. Về bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tàisản (Điều 163 - Điều 170)

Bộluật cơ bản kế thừa các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trong BLDS 2005. Tuynhiên, để làm rõ hơn việc bảo vệ quyền khác đối với tài sản, Bộ luật quy địnhchủ thể có quyền khác đối với tài sản cóquyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền củamình bằngnhững biện pháp không trái với quy định của pháp luật; chủ sở hữu không có quyềnđòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sảnđó.

2.Về “Chiếm hữu” (Chương XII)

Để bảo đảm giữ ổn định cácquan hệ liên quan đến tài sản, trật tự, an toàn xã hội, Bộ luật quy định về chiếm hữu độc lập với quy định về quyền sở hữu vàquyền khác đối với tài sản theo cách tiếp cận tôn trọng tình trạng thựctế - mối quan hệ thực tế giữa người chiếm hữu và tài sản. Trong đó:

- Chiếm hữulà việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhưchủ thể có quyền đối với tài sản;

- Chiếm hữu bao gồmchiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu; việcchiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyềnsở hữu, trừ trường hợp xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sảnkhông xác định được chủ sở hữu, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, bị chìm đắm,tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên, gia súc bị thất lạc, gia cầm bị thấtlạc, vật nuôi dưới nước và xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu,được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật;

- Người chiếm hữuđược suy đoán là ngay tình, người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tìnhthì phải chứng minh; trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thìngười chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó, người có tranh chấp vớingười chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền; ngườichiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền vàđược hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của BLDS và luậtkhác có liên quan;

- Trường hợp việcchiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu có quyền yêu cầu người cóhành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lạitài sản và BTTH hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khácbuộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sảnvà BTTH.

3. Về “Quyền sở hữu”(Chương XIII)

Bộ luật cơ bản kế thừa quyđịnh về quyền sở hữu trong BLDS 2005 và có sửađổi, bổ sung một số quy định về hình thức sở hữu và căn cứ xác lập quyền sởhữu. Trong đó:

3.1. Về hình thức sở hữu (Điều 197 - Điều 220)

Bộ luật ghi nhận03 hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung thay vìviệc ghi nhận 06 hình thức sở hữu như trong BLDS 2005 (sở hữu nhà nước; sở hữutập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp). Cụ thể:

- Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyênkhoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác vàcác tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dândo Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước CHXHCN Việt Namlà đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàndân, Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả vàtiết kiệm tài sản thuộc sở hữu toàn dân;

- Sở hữu riêng là sở hữu của một cánhân hoặc một pháp nhân; tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chếvề số lượng, giá trị.

- Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủthể đối với tài sản; sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chunghợp nhất.

Quy định về sở hữu chung của các thànhviên gia đình cùng sống chung đối với tài sản do các thành viên đóng góp, cùngnhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy địnhcủa BLDS và luật khác có liên quan.

Trường hợp vợchồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật vềhôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độtài sản này.

Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với độngsản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có ngườithừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sảnchung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định về xác lập quyềnsở hữu đối với tài sản vô chủ theo quy định của BLDS.

3.2. Về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệudo chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 236)

Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự, sự thống nhấttrong quy định pháp luật liên quan đến thời hiệu hưởng quyền, Bộ luật quy địnhnguyên tắc chung về thờihiệu xác lập quyền sở hữu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứpháp luật mà không phân biệt tài sản đó thuộc sở hữu của ai, theo đó, người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứpháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với độngsản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thờiđiểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy địnhkhác.

4. Về “Quyền khác đối vớitài sản” (Chương XIV)

Để tạo cơ sở pháp lý đầy đủhơn, thuận lợi hơn cho việc khai thác, sử dụng một cách hiệu quả các tài sản,các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và để tạo cơ chế pháp lý để các chủ thểkhông phải là chủ sở hữu thực hiện quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của chủthể khác, bảo đảm khai thác được nhiều nhất lợi ích trên cùng một tài sản, bảođảm trật tự, ổn định các quan hệ có liên quan, Bộ luật sửa đổi quy định vềquyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề trong BLDS 2005 và bổ sung quy địnhvề quyền hưởng dụng, quyền bề mặt. Trong đó:

4.1. Về quyềnđối với bất động sản liền kề (Điều 245 - Điều 256)

Bộ luật quy địnhquyền đối với bất động sản liền kề theo cách tiếp cận điều chỉnh mối quan hệgiữa hai bất động sản, theo đó:

- Quyền đối vớibất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bấtđộng sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sảnkhác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền);

- Quyền đối vớibất động sản liền kề được xác lập do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật,theo thoả thuận hoặc theo di chúc;

- Quyền đối vớibất động sản liền kề có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân và được chuyểngiao khi bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp luật liên quan có quyđịnh khác.

- Việc thực hiệnquyền đối với bất động sản liền kề theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp cácbên không có thỏa thuận thì thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm nhu cầu hợp lýcủa việc khai thác bất động sản hưởng quyền phù hợp với mục đích sử dụng của cảbất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền; không được lạm dụngquyền đối với bất động sản chịu hưởng quyền; không được thực hiện hành vi ngăncản hoặc làm cho việc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền trở nênkhó khăn;

- Trường hợp có sựthay đổi về sử dụng, khai thác bất động sản chịu hưởng quyền dẫn đến thay đổiviệc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền thì chủ sở hữu bất độngsản chịu hưởng quyền phải thông báo trước cho chủ sở hữu bất động sản hưởngquyền trong một thời hạn hợp lý. Chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phảitạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phù hợp với thayđổi này;

- Quyền đối vớibất động sản liền kề chấm dứt trong trường hợp bất động sản hưởng quyền và bấtđộng sản chịu hưởng quyền thuộc quyền sở hữu của một người; việc sử dụng, khaithác bất động sản không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền; theo thỏa thuậncủa các bên và trường hợp khác theo quy định của luật.

4.2. Về quyền hưởng dụng (Điều 257 - Điều 266)

Bộ luật bổ sungquy định về quyền hưởng dụng, trong đó:

- Quyền hưởng dụnglà quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối vớitài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định;

-Quyền hưởng dụngcó thể được xác lập theo quy định của luật, theo thoả thuận hoặc theo di chúc; quyền hưởng dụng được xác lập từthời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luậtliên quan có quy định khác; quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đốivới mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác;

- Cá nhân, phápnhân đều có thể là chủ thể có quyền hưởng dụng. Thời hạn của quyền hưởng dụngdo các bên thỏa thuận hoặc do luật quy định nhưng tối đa đến hết cuộc đời củangười hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dụng là cá nhân và đến khi pháp nhânchấm dứt tồn tại nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là phápnhân;

-Người hưởng dụng có quyền tự mình hoặccho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng củaquyền hưởng dụng; người hưởng dụng có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản là đốitượng của quyền hưởng dụngtrong thời gian quyền này có hiệu lực, trường hợp quyền hưởng dụng chấm dứt mà chưa đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợitức thì khi đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợi tức, người hưởng dụng được hưởng giátrị của hoa lợi, lợi tức thu được tương ứng với thời gian người đó được quyềnhưởng dụng; yêu cầu chủ sở hữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản đểbảo đảm không bị suy giảm đáng kể dẫn tới tài sản không thể sử dụng được hoặcmất toàn bộ công dụng, giá trị của tài sản; trường hợp thực hiện nghĩa vụ thaycho chủ sở hữu tài sản thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sản hoàn trả chiphí; người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng trong thời hạn củaquyền hưởng dụng;

- Người hưởng dụng có nghĩa vụ tiếp nhận tài sảntheo hiện trạng và thực hiện đăng ký nếu luật có quy định; khai thác tài sảnphù hợp với công dụng, mục đích sử dụng của tài sản; giữ gìn, bảo quản tài sảnnhư tài sản của mình; bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ để bảo đảm choviệc sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và khắc phục các hậuquả xấu đối với tài sản do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù hợpvới yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo quản tài sản; hoàn trả tài sảncho chủ sở hữu khi hết thời hạn hưởng dụng;

- Chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản nhưng khôngđược làm thay đổi quyền hưởng dụng đã được xác lập; yêu cầu Tòa án truất quyềnhưởng dụng trong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ củamình; không được cản trở, thực hiện hành vi khác gây khó khăn hoặc xâm phạm đếnquyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng dụng; thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tàisản để bảo đảm không bị suy giảm đáng kể dẫn tới tài sản không thể sử dụng đượchoặc mất toàn bộ công dụng, giá trị của tài sản;

- Quyền hưởng dụng chấm dứt khi thời hạn của quyềnhưởng dụng đã hết; theo thỏa thuận của các bên; người hưởng dụng trở thành chủsở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng; người hưởng dụng từ bỏ hoặckhông thực hiện quyền hưởng dụng trong thời hạn do luật quy định; tài sản làđối tượng của quyền hưởng dụng không còn; theo quyết định của Tòa án hoặc căncứ khác theo quy định của luật.

Khi chấm dứt quyền hưởng dụng thì tài sản là đốitượng của quyền hưởng dụng phải được hoàn trả cho chủ sở hữu, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

4.3. Về quyền bề mặt (Điều 267 - Điều273)

Bộ luật bổ sungquy định về quyền bề mặt, trong đó:

- Quyền bề mặt làquyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặtđất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác;

- Quyền bề mặtđược xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc. Quyềnbề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặtđất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thểcó quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quyđịnh khác;

- Quyền bề mặt có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợpluật liên quan có quy định khác;

- Thời hạn của quyền bề mặt được xác định theo quyđịnh của luật, theo thoả thuận hoặc di chúc nhưng không vượt quá thời hạn củaquyền sử dụng đất. Trường hợp thoả thuận hoặc di chúc không xác định thời hạncủa quyền bề mặt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền này bất cứ lúc nào nhưngphải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất là 06 tháng;

- Chủ thể quyền bề mặt có quyền khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước,khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đấtcủa người khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác và được sở hữu nhữngtài sản được tạo lập nhưng không được trái với quy định của BLDS, pháp luật vềđất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của phápluật có liên quan. Trường hợp quyền bề mặt được chuyển giao một phần hoặc toàn bộ thì chủ thểnhận chuyển giao được kế thừa quyền bề mặt theo điều kiện và trong phạm vitương ứng với phần quyền bề mặt đượcchuyển giao;

- Quyền bề mặt chấm dứt khi thời hạn hưởng quyền bềmặt đã hết; chủ thể có quyền bề mặt và chủ thể có quyền sử dụng đất là một; chủthể có quyền bề mặt từ bỏ quyền của mình; quyền sử dụng đất có quyền bề mặt bịthu hồi theo quy định của Luật đất đai; theo thỏa thuận của các bên hoặc theoquy định của luật.

Khiquyền bề mặt chấm dứt, chủ thể quyền bề mặt phải trả lại mặt đất, mặt nước,khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền sửdụng đất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; chủ thể quyền bề mặtphải xử lý tài sản thuộc sở hữu của mình trước khi quyền bề mặt chấm dứt, trừtrường hợp có thỏa thuận khác; trường hợp chủ thể quyền bề mặt không xử lý tàisản trước khi quyền bề mặt chấm dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủthể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợpchủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản đó. Trường hợp chủ thể có quyềnsử dụng đất không nhận tài sản mà phải xử lý tài sản thì chủ thể có quyền bềmặt phải thanh toán chi phí xử lý tài sản.

III.PHẦN THỨ BA “NGHĨA VỤ VÀ HỢP ĐỒNG”

1. Về “Quy định chung”(Chương XV)

Để bảo đảm sự an toàn, thôngthoáng trong quan hệ nghĩa vụ, công bằng giữa các bên, phù hợp với thực tiễncủa Việt Nam và thông lệ quốc tế, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự do viphạm nghĩa vụ, giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, chấm dứt hợpđồng. Trong đó:

1.1. Về bảo đảmthực hiện nghĩa vụ (Điều 292 - Điều 350)

a) Về quy địnhchung

Bộ luật quy định09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặtcọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp; cầm giữ tàisản), trong đó kế thừa 07 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS 2005và bổ sung 02 biện pháp (bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản). Đồng thời,sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến nội dung các biện pháp bảo đảmnày, cụ thể:

- Bộ luật quy địnhphạm vi nghĩa vụ được bảo đảm có thể là một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuậnhoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật khôngquy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩavụ trả lãi, tiền phạt và BTTH; trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai,các bên có quyền thỏa thuận cụ thể về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm và thời hạnthực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, khinghĩa vụ trong tương lai được hình thành, các bên không phải xác lập lại biệnpháp bảo đảm đối với nghĩa vụ đó;

- Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợpcầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu; tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung,nhưng phải xác định được; tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tàisản hình thành trong tương lai; giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn,bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm;

- Biệnpháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biệnpháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm. Khibiện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhậnbảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền ưu tiên thanh toángiữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm theo quy định tại BLDS và luật khác cóliên quan;

- Biệnpháp bảo đảm được đăng ký theo thoả thuận hoặc theo quy định của luật, việcđăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luậtcó quy định; trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lựcđối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký; việc đăng ký biện pháp bảođảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm;

- Trường hợp cócăn cứ về xử lý tài sản bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng vănbản trong thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và cácbên cùng nhận bảo đảm khác; người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tàisản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý, trừ trường hợp trước thời điểm xử lýtài sản bảo đảm mà bên bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bênnhận bảo đảm;

- Bên cầm cố, thếchấp và bên nhận cầm cố, thế chấp có quyền thỏa thuận về phương thức xử lý tàisản cầm cố, thế chấp; nếu không có thỏa thuận thì tài sản cầm cố, thế chấp đượcbán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác;

- Việc thanh toánsố tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theonguyên tắc: Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khithanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp đượcthanh toán theo thứ tự ưu tiên giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm được quyđịnh tại BLDS; trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thếchấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thếchấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trảcho bên bảo đảm; trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thếchấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thếchấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanhtoán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏathuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩavụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán;

- Trường hợp mộttài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanhtoán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được xác định như sau: Trường hợp các biệnpháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanhtoán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng; trường hợp có biệnpháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảmkhông phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện phápbảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước; trườnghợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.

Thứ tự ưu tiên thanh toán nêutrên có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứtự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưutiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền.

b) Về cầm cố tàisản

Bên cạnh kế thừaquy định trong BLDS 2005, Bộ luật quy định về cầm cố tài sản theo hướng, tách biệt giữa thời điểm hợp đồng cầm cố có hiệu lựcvà thời điểm biện pháp cầm cố có hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Theo đó: cầm cố tài sản có hiệu lựctừ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy địnhkhác; cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bênnhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố; trường hợp bất động sản là đối tượng của cầmcố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng vớingười thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

c) Về thế chấp tài sản

Bộ luật sửa đổi một sốquy định trong BLDS 2005 về tài sản thế chấp, hiệu lực của thế chấp tài sản,quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó:

- Hợp đồng thế chấptài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặcluật có quy định khác; thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với ngườithứ ba kể từ thời điểm đăng ký;

- Trường hợp thế chấpquyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấpthì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏathuận khác.

- Trường hợp thếchấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thờilà chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi có căn cứ xử lý tài sản bảo đảm, tài sản được xử lý bao gồm cả tài sảngắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; trường hợp người sử dụngđất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyềnsử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đấttrong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấptrong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao chongười nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

- Trường hợp chỉ thế chấp tàisản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sảngắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì khi có căn cứ xử lý tài sản bảo đảm, tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sửdụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; trường hợp chủ sở hữu tài sản gắnliền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắnliền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếptục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liềnvới đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

d) Về bảo lưuquyền sở hữu

Trên cơ sở kế thừa quy định về bảo lưu quyền sở hữu tronghợp đồng mua bán tài sản tại BLDS 2005, Bộ luật phát triển bảo lưu quyền sở hữuthành một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản theo thỏa thuận, theo đó:

- Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thểđược bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ; bảolưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồngmua bán; bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kểtừ thời điểm đăng ký;

- Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theothỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên muasố tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng.Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu BTTH;

- Bên mua tài sản có quyền sử dụng tài sản và hưởng hoalợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực và cónghĩa vụ chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trườnghợp có thoả thuận khác.

đ) Về bảo lãnh

Trên cơ sở kế thừa quy định về bảolãnh trong BLDS 2005, Bộ luật sửa đổi, bổ sung một số quy định quan trọng đểlàm rõ bản chất pháp lý của bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân, tạo cơ chếlinh hoạt hơn trong việc thực hiện bảo lãnh. Trong đó:

- Các bên trong quan hệ bảo lãnh có thể thỏa thuận sử dụngbiện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh lànghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụphát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại;

- Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúngnghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thựchiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉphải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên đượcbảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ;

- Trường hợp một trong số những người nhận bảo lãnh liênđới miễn cho bên bảo lãnh không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thìbên bảo lãnh vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người nhậnbảo lãnh liên đới còn lại;

- Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhậnbảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và BTTH.

e) Về cầm giữtài sản

Trên cơ sở kếthừa quy định về cầm giữ tài sản trong thực hiện hợp đồng song vụ tại BLDS2005, Bộ luật đã phát triển cầm giữ tài sản thành một biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ bằng tài sản theo luật định, theo đó:

- Cầmgiữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợppháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trongtrường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ;

- Cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thựchiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩavụ; cầm giữ tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thờiđiểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản;

- Bên cầm giữ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thựchiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ; têu cầu bên có nghĩa vụphải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ;được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụđồng ý.

Giá trị của việckhai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ;

- Bên cầm giữ có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản tài sản cầmgiữ; không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ; không được chuyểngiao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ; giaolại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện; BTTH nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.

1.3. Về trách nhiệm dân sự do vi phạmnghĩa vụ (Điều 351 - Điều 364)

Để bảo đảm rõ ràng, minh bạch, hợp lý và công bằng vềtrách nhiệm dân sự, Bộ luật bên cạnh kế thừa quy định của BLDS 2005 đã sửa đổi,bổ sung một số quy định quan trọng sau đây:

- Xác định cụ thể vi phạm nghĩa vụ bao gồmviệc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn,thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ;

- Trường hợp chậmthực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ theonguyên tắc, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy địnhtrong hợp đồng vay tài sản tại BLDS; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theoquy định về xác định lãi suất khi không có thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sảntại BLDS;

- Quy định cụ thể về thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (bao gồmthiệt hại về vật chất - là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổnthất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thunhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút - và thiệt hại về tinh thần - là tổn thấtvề tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tínvà các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể) và cơ chế pháp lý về thực hiệntrách nhiệm BTTH, theo đó trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên cónghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận kháchoặc luật có quy định khác;

-Bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại khôngxảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình; trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệthại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải BTTH tương ứng với mức độ lỗi của mình.

1.4. Về giao kếthợp đồng (Điều 385 - Điều 408)

Trên cơ sở kế thừa quy định về giao kết hợp đồng tại BLDS 2005, Bộ luật đãcó sửa đổi, bổ sung một số nội dung về đề nghị giao kết hợp đồng,thông tin trong giao kết hợp đồng, hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhậngiao kết hợp đồng, nội dung của hợp đồng, thời điểm giao kết hợp đồng, hiệu lựccủa hợp đồng, giải thích hợp đồng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chungtrong giao kết hợp đồng, hợp đồng vô hiệu… Trong đó:

- Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng vàchịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác địnhhoặc tới công chúng;

- Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợpđồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết, một bên nhận được thôngtin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảomật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mìnhhoặc cho mục đích trái pháp luật khác, bên vi phạm quy định này mà gây thiệthại thì phải bồi thường;

- Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể huỷ bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyềnnày trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đềnghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng;

- Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giaokết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lậpgiữa các bên;

- Trường hợpbên đề nghị hoặc bên được đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi bên được đề nghị trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồngnhưng sau đó chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trườnghợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị hoặc bên được đề nghị;

- Hợp đồng đượcgiao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết; trường hợp cácbên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong mộtthời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạnđó; thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuậnvề nội dung của hợp đồng; thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểmbên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiệntrên văn bản; trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lậpbằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo thời điểm cácbên thỏa thuận;

-Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừtrường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác; từ thời điểmhợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhautheo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận củacác bên hoặc theo quy định của pháp luật;

- Trường hợp hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điềukhoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thểhiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng;

- Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đềnghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng; trình tự, thể thức công khai hợp đồng theomẫu thực hiện theo quy định của pháp luật;

- Ghinhận điều kiện giao dịch chung, trong đó được hiểu là những điều khoản ổn địnhdo một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếubên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoảnnày; điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trongtrường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịchbiết hoặc phải biết về điều kiện đó, trình tự, thể thức công khai điều kiệngiao dịch chung thực hiện theo quy định của pháp luật; điều kiện giao dịchchung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên. Trường hợp điều kiện giao dịchchung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung,tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì quy định nàykhông có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

1.5. Thực hiện hợp đồng(Điều 409 - Điều 420)

Bộ luật đã sửa đổi, bổ sungmột số quy định trong BLDS 2005 về hoãn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng songvụ, quyền từ chối của người thứ ba trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba,thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng và thực hiện hợp đồng khi hoàncảnh thay đổi cơ bản. Trong đó:

- Sửa đổi quy định về việc người thứ ba trong hợpđồng thực hiện vì lợi ích của người thứ ba từ chối lợi ích của mình sau khi bêncó nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ theo hướng nghĩa vụ được xem là đã hoàn thànhvà bên có quyền vẫn phải thực hiện cam kết đối với bên có nghĩa vụ. Trongtrường hợp này, lợi ích phát sinh từ hợp đồng thuộc về bên mà nếu hợp đồngkhông vì lợi ích của người thứ ba thì họ là người thụ hưởng, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác;

- Bổ sung quy định về thiệt hại được bồi thường do viphạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định chung về xác định thiệthại tại BLDS; người cóquyền có thể yêu cầu BTTH cho lợi ích mà lẽ ramình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầungười có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợpđồng mà không trùng lặp với mức BTTHcho lợi ích mà hợp đồng mang lại; theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án cóthể buộc người có nghĩa vụ BTTH về tinh thần cho ngườicó quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc;

- Bổ sung quy định về việc thực hiện hợp đồng khihoàn cảnh thay đổi một cách cơ bản khi có đủ các điều kiện: (i) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhânkhách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; (ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, cácbên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; (iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mứcnếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giaokết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; (iv) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổinội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; (v) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đãáp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chấtcủa hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.

Trường hợp hoàncảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàmphán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Trườnghợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạnhợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổihợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổicơ bản. Tòa ánchỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợpđồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu đượcsửa đổi. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyếtvụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng,trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

1.6. Về sửa đổi, chấmdứt hợp đồng (Điều 422 - Điều 429)

Để nâng cao trách nhiệm củacác bên trong thực hiện cam kết, hạn chế việc tuyên bố chấm dứt hợp đồng mộtcách tùy tiện và hạn chế những rủi ro pháp lý khác có liên quan trong thực hiệnhợp đồng, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến sửa đổi,chấm dứt hợp đồng. Trong đó:

- Các bên có thể thoả thuận sửa đổi hợpđồng; hợp đồng có thể được sửa đổi theo quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàncảnh thay đổi cơ bản tại Điều 420 của BLDS; hợp đồng sửa đổi phải tuân theohình thức của hợp đồng ban đầu;

- Quy định cụ thể hơn về căn cứ hủy bỏ hợpđồng theo hướng, một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải BTTH trong trường hợpbên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận; bên kiavi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng (việc không thực hiện đúng nghĩa vụ củamột bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợpđồng) hoặc trường hợp khác do luật quy định;

-Bổ sung một số trường hợp cụ thể về hủy bỏ hợp đồng, cụ thể:

+ Trường hợpbên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiệnnghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thìbên có quyền có thể huỷ bỏ hợp đồng; trường hợp do tính chất của hợp đồng hoặcdo ý chí của các bên, hợp đồng sẽ không đạt được mục đích nếu không được thựchiện trong thời hạn nhất định mà hết thời hạn đó bên có nghĩa vụ không thựchiện đúng nghĩa vụ thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng mà không phải tuân theoquy định về hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ tại khoản 1 Điều 424 củaBLDS;

+Trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩavụ của mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thì bên có quyềncó thể huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu BTTH;

+ Trường hợp một bên làm mất, làm hư hỏng tài sản là đốitượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc khôngthể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền huỷ bỏ hợpđồng; bên vi phạm phải bồi thường bằng tiền ngang với giá trị của tài sản bịmất, bị hư hỏng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định về tráchnhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ tại khoản 2, khoản 3 Điều 351 và về BTTH trongtrường hợp bên bị vi phạm có lỗi tại Điều 363 của BLDS;

- Quy định cụ thể hơn, hợp lý, công bằng hơn về hậu quảpháp lý của hủy bỏ hợp đồng theo hướng, khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồngkhông có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụđã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, BTTH và thỏa thuận vềgiải quyết tranh chấp; các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khitrừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tàisản. Việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật. Trường hợp không hoàn trả đượcbằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả. Trường hợp các bên cùngcó nghĩa vụ hoàn trả thì việc hoàn trả phải được thực hiện cùng một thời điểm,trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bên bị thiệthại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường. Việc giải quyếthậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân do BLDS và luậtkhác có liên quan quy định; trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ quyđịnh tại các điều 423 về hủy bỏ hợp đồng, 424 về hủy bỏ hợp đồng do chậm thựchiện nghĩa vụ, 425 về hủy bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện và 426 vềhủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng thì bên hủy bỏ hợpđồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sựdo không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của BLDS, luật khác có liênquan;

- Quy định cụ thể hơn về đơn phương chấm dứt thực hiệnhợp đồng theo hướng, một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng vàkhông phải BTTH khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng,các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt thựchiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng,nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợpđồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bênkhông phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, BTTH và thỏathuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bênkia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện. Bên bị thiệt hại do hành vi khôngthực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường. Trường hợpviệc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy thì bên đơnphương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ vàphải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác cóliên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng;

-Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm,kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp phápcủa mình bị xâm phạm.

2. Về “Một số hợp đồngthông dụng” (Chương XVI)

Để bảo đảm sự ổn định trongquy định của BLDS, tránh chồng chéo, trùng lắp với quy định của các luật kháccó liên quan về hợp đồng trong lĩnh vực cụ thể và để bảo đảm sự bao quát, phùhợp hơn với thực tiễn hợp đồng, Bộ luật bên cạnh việc không quy định các hợpđồng liên quan về nhà ở, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thì cũng đã bổ sung hợpđồng về quyền sử dụng đất, hợp đồng hợp tác. Theo đó, Bộ luật ghi nhận 13 loạihợp đồng thông dụng về mua bán tài sản, trao đổi tài sản, tặng cho tài sản, vaytài sản, thuê tài sản, mượn tài sản, về quyền sử dụng đất, hợp tác, dịch vụ,vận chuyển, gia công, gửi giữ và ủy quyền. Trong đó:

- Đối với hợp đồng mua bán tài sản, tài sản bán phải thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán tàisản đó; tài sản được quy định tạiBLDS đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán, trừ trường hợp theo quy địnhcủa luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản bán phải phùhợp với các quy định đó.

Trường hợp điều khoản về chấtlượng tài sản mua bán không rõ ràng thì xác định theo thỏa thuận, nếu không cóthỏa thuận thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn đãđược công bố theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêuchuẩn ngành nghề, nếu không có các tiêu chuẩn trên thì áp dụng tiêu chuẩn thôngthường hoặc áp dụng tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng vàtheo quy định của Luật bảo vệ người tiêu dùng;

-  Đối với hợp đồng vay tài sản, thay vì quyđịnh như BLDS 2005 áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam côngbố làm lãi suất tham chiếu trong xác định lãi suất trần thì Bộ luật đã quy địnhmức lãi suất cố định theo hướng, trườnghợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không đượcvượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợpluật khác có liên quan quy định khác; căn cứtình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyếtđịnh điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; trường hợp lãi suất theo thỏa thuậnvượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượtquá không có hiệu lực. Trường hợp cácbên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranhchấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định nhưtrên (khoản 1 Điều 468 của BLDS) tại thời điểm trả nợ.

Vềnghĩa vụ trả nợ của bên vay, Bộ luật quy định, trường hợp vay không có lãi màkhi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên chovay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất như trường hợp các bên có thỏathuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất (khoản 2 Điều 468 củaBLDS) trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp cóthoả thuận khác hoặc luật có quy định khác; trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vaykhông trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: (i) Lãi trênnợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay màđến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất như trườnghợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất (khoản 2 Điều 468 của BLDS); (ii)Lãi trên nợgốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng vớithời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác;

- Bộ luật ghi nhận hợp đồng về quyền sử dụng đất làmột trong các hợp đồng thông dụng trong giao lưu dân sự, theo đó, hợp đồng nàyđược hiểu là sựthỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng,cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thựchiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiệnquyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất. Bộ luật cũng có quy địnhmang tính nguyên tắc về nội dung, hình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng và hiệulực của việc chuyển quyền sử dụng đất;

- Bộ luật bổ sung hợp đồng hợp tác là một trong các hợp đồng thông dụngđể tạo căn cứ pháp lý điểu chỉnh thống nhất về quan hệ giữa các thành viên tổhợp tác cũng như về quan hệ giữa các thành viên hợp đồng hợp tác kinh doanhkhác, theo đó: hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân vềviệc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùnghưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Trong đó, quy định cụ thể về nội dung củahợp đồng hợp tác, tài sản chung của thành viên hợp tác, xác lập, thực hiện giaodịch dân sự, trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác, rút khỏi, gia nhập hợpđồng hợp tác và chấm dứt hợp đồng hợp tác.

3. Về “Hứa thưởng, thi cógiải” (Chương XVII)

Bộ luật mặc dù không sửa đổi,bổ sung một cách đáng kể về nội dung các quy định liên quan đến hứa thưởng, thicó giải nhưng để bảo đảm phù hợp hơn với bản chất pháp lý, đặc thù của hứathưởng, thi có giải thì đã không quy định hứa thưởng, thi có giải là một loạihợp đồng thông dụng mà tách thành một chế định độc lập trong Phần Nghĩa vụ vàhợp đồng (chương XVII).

4. Về “Thực hiện công việckhông có ủy quyền” (Chương XVIII)

Bộ luật cơbản kế thừa quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền tại BLDS 2005.Tuy nhiên, để phù hợp hơn với các quy định liên quan về đại diện theo ủy quyền,Bộ luật đã sửa đổi theo hướng không chỉ là việc giữa các cá nhân với nhau mà cóthể là giữa cá nhân với pháp nhân, giữa các pháp nhân với nhau. Theo đó, thựchiện công việc không có ủy quyền được quy định là việc một cá nhân, pháp nhânkhông có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đóvì lợi ích của cá nhân, pháp nhân có công việc được thực hiện khi người nàykhông biết hoặc biết mà không phản đối.

5. Về “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng” (Chương XX)

Quy định vềtrách nhiệm BTTH ngoài hợpđồng trong Bộ luật về cơ bản kế thừa quy định của BLDS 2005. Tuy nhiên, Bộ luậtcó một số sửa đổi, bổ sung quan trọng về căn cứ phát sinh, nguyên tắc, năng lựcchịu trách nhiệm BTTH, thời hiệukhởi kiện yêu cầu BTTH, mức bồithường bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, BTTH do người thi hành công vụ gây ra, thời hạn hưởngquyền BTTH do tính mạng,sức khỏe bị xâm phạm, BTTH do súc vậtgây ra, BTTH do nhà cửa,công trình xây dựng khác gây ra, BTTH do xâm phạm mồ mả. Trong đó:

- Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danhdự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác màgây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quanquy định khác;

- Ngườigây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm BTTH trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặchoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặcluật có quy định khác;

-Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phảichịu trách nhiệm BTTH hoặc do có thỏa thuận, luật có quyđịnh khác;

- Bêncó quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không ápdụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình;

- Mứcbồi thường bù đắp tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu các bên khôngcó thỏa thuận thì được xác định như sau: (i) Về thiệt hại do sức khỏe bị xâmphạm, mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lầnmức lương cơ sở do Nhà nước quy định; (ii) Về thiệt hại do tính mạng bị xâmphạm, mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lầnmức lương cơ sở do Nhà nước quy định; (iii) Về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,uy tín bị xâm phạm, mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bịxâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định; (iv) Về thiệthại do xâm phạm thi thể, mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quába mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định; (v) Về thiệt hại do xâm phạmmồ mả, mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơsở do Nhà nước quy định;

- Nhà nước có trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụgây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

- Thời hiệu khởikiện yêu cầu BTTH ngoài hợp đồng là 03năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợppháp của mình bị xâm phạm.

IV.PHẦN THỨ TƯ “THỪA KẾ”

1. Về “Quy định chung”(Chương XXI)

Chương này quyđịnh về quyền thừa kế, thời điểm, địa điểm mở thừa kế, di sản, người thừa kế,thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế, thực hiện nghĩa vụ tàisản do người chết để lại, người quản lý di sản, từ chối nhận di sản, ngườikhông được quyền hưởng di sản, thời hiệu thừa kế. Trong đó:

- Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kếtheo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật; người thừa kếkhông là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc;

- Người quản lý disản, người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản đượcthanh toán chi phí bảo quản di sản; trường hợp không đạt được thỏa thuận vớinhững người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng mộtkhoản thù lao hợp lý;

- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến ngườiquản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia disản để biết; việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phânchia di sản;

- Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bấtđộng sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn nàythì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không cóngười thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc về các chủ thể theo thứ tựnhư sau: (1) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy địnhvề xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản khôngcó căn cứ pháp luật (Điều 236 của BLDS); (2) Di sản thuộc về Nhà nước, nếukhông có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặcbác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của ngườichết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

2. Về “Thừa kế theo dichúc” (Chương XXII)

Chương này quyđịnh về di chúc, người lập di chúc, hình thức của di chúc, nội dung của dichúc, người làm chứng cho việc lập di chúc, thủ tục lập di chúc tại tổ chứchành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, di chúc do công chứng viênlập tại chỗ ở, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc, hiệu lực của dichúc, di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng, giải thích nội dung di chúc.Trong đó:

- Không quy địnhvề di chúc chung của vợ chồng;

- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ýchí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khingười di chúc cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan cóthẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng;

- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồmnhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉcủa người lập di chúc; trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tựviết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửachữa;

- Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìmthấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêucầu;

- Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kếhoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khingười để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhânthì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

- Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khácnhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung dichúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mốiquan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người nàykhông nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giảiquyết.

3. Về “Thanh toán và phânchia di sản” (Chương XXIV)

Chương này quyđịnh về họp mặt những người thừa kế, người phân chia di sản, thứ tự ưu tiênthanh toán, phân chia di sản theo di chúc và theo pháp luật, hạn chế phân chiadi sản, phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có ngườithừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế. Trong đó:

- Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phíliên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây: (1) Chi phí hợp lýtheo tập quán cho việc mai táng; (2) Tiền cấp dưỡng còn thiếu; (3) Chi phí choviệc bảo quản di sản; (4) Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ; (5) Tiền cônglao động; (6) Tiền BTTH; (7) Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước; (8) Cáckhoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân; (9) Tiền phạt; (10) Các chi phí khác;

 -Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêmtrọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sốngcó quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởngnhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứngminh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đìnhhọ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.

V.PHẦN THỨ NĂM “PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUANHỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI”

1. Về “Quy định chung”(Chương XXV)

Chương này quy định về phạm viáp dụng, xác định pháp luật áp dụng đối với QHDSYTNN, áp dụng điều ước quốc tế đối với QHDSYTNN, áp dụng tập quán quốc tế, ápdụng pháp luật nước ngoài, phạm vi pháp luật được dẫn chiếu đến, áp dụng phápluật của nước có nhiều hệ thống pháp luật, trường hợp không áp dụng pháp luậtnước ngoài và thời hiệu. Trong đó:

- Pháp luật ápdụng xác định dựa trên các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà ViệtNam là thành viên hoặc luật Việt Nam. Các bên được quyền chọn pháp luật áp dụngcho QHDSYTNN khi quy phạm xung đột chỉ dẫnpháp luật áp dụng là pháp luật do các bên lựa chọn. Trường hợp không xác địnhđược pháp luật áp dụng theo các nguyên tắc trên thì pháp luật áp dụng là phápluật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ đó;

- Trường hợp cóthể áp dụng cả điều ước có quy phạm thực chất (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ củacác bên) và quy phạm xung đột (quy định về pháp luật áp dụng) thì ưu tiên ápdụng điều ước có quy phạm thực chất. Tiếp tục ghi nhận nguyên tắc ưu tiên cácquy định của điều ước quốc tế so với quy định của pháp luật Việt Nam;

- Các bên trongtrường hợp được lựa chọn pháp luật áp dụng thì có quyền lựa chọn áp dụng tậpquán quốc tế. Nếu hậu quả của việc áp dụng trái với các nguyên tắc cơ bản củapháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng;

- Trường hợp phápluật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phảitheo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó;

- Trường hợp các bên được lựachọn pháp luật áp dụng (hợp đồng, BTTH ngoài hợp đồng, thực hiện công việc không cóủy quyền), chỉ dẫn chiếu đến quy phạm thực chất trong pháp luật do các bên lựachọn; trường hợp khác cho phép dẫn chiếu ngược về pháp luật Việt Nam và dẫnchiếu đến pháp luật của nước thứ ba;

- Trường hợp pháp luật của nước cónhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác địnhtheo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định;

- Trường hợp pháp luật nước ngoài đã đượcxác định là pháp luật áp dụng theo các quy phạm xung đột nhưng vẫn phải áp dụngpháp luật Việt Nam bao gồm: (1) Hậu quả (dự kiến) của việc áp dụng trái với cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (là các nguyên tắc cốt lõi, bao trùm,là nền tảng để xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam, bao gồm, nhưng khônggiới hạn ở những nguyên tắc đã được quy định trong Hiến pháp); (2) Nội dung củapháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cầnthiết theo quy định của pháp luật tố tụng;

- Thời hiệu ápdụng đối với QHDSYTNN đượcxác định theo pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự đó.

2.Về “Pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân” (Chương XXVI)

Chương này quy định về căn cứxác định pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch, người có nhiều quốc tịch,năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân, xác định cánhân mất tích hoặc chết, pháp nhân. Trong đó: pháp luật áp dụng với năng lựcpháp luật và năng lực hành vi của cá nhân xác định trên cơ sở quốc tịch; trườnghợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịchthì pháp luật áp dụng đối với cá nhân có nhiều quốc tịch, nếu có quốc tịch ViệtNam là pháp luật Việt Nam; pháp luật của nước nơi pháp nhân có quốc tịch làpháp luật áp dụng với những vấn đề về nhân thân của pháp nhân (tên gọi, đạidiện theo pháp luật, cơ cấu tổ chức nội bộ, quan hệ giữa pháp nhân với thànhviên pháp nhân, người của pháp nhân…). Quốc tịch của pháp nhân xác định theopháp luật nơi pháp nhân thành lập.

3.Về “Pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân” (ChươngXXVII)

Chương này quy định về phânloại tài sản, quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, quyền sở hữu trí tuệ,thừa kế, di chúc, giám hộ, hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương, nghĩa vụ hoàntrả do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, thựchiện công việc không có ủy quyền, BTTH ngoài hợp đồng. Trong đó:

- Đối với giám hộ,pháp luật nước nơi người được giám hộ cư trú là pháp luật áp dụng với quan hệgiám hộ;

- Đối với nghĩa vụhoàn trả do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luậtvà thực hiện công việc không có ủy quyền, pháp luật của nơi thực hiện việcchiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc nơiphát sinh lợi ích được hưởng mà khôngcó căn cứ pháp luật là pháp luật áp dụng đối với quan hệ nghĩa vụ hoàn trả dochiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản khôngcó căn cứ pháp luật. Pháp luật do các bên lựa chọn áp dụng với quan hệ thựchiện công việc không có ủy quyền, nếu các bên không chọn, pháp luật nơi thựchiện công việc không có ủy quyền được áp dụng;

- Đối với quyền sởhữu trí tuệ, pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầubảo hộ là pháp luật áp dụng với quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài; 

- Đối với hìnhthức di chúc, pháp luật áp dụng với hình thức di chúc bao gồm: pháp luật củamột trong các nước: nơi lập di chúc, nơi người lập di chúc cư trú hoặc có quốctịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết, nơicó bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản;

- Đối với hợpđồng, quyền tự do lựa chọn luật áp dụng với hợp đồng của các bên chỉ bị hạn chếtrong trường hợp hợp đồng có đối tượng là bất động sản, hợp đồng lao động, hợpđồng tiêu dùng (khi pháp luật được chọn ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu củangười lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam) và trường hợp thay đổipháp luật áp dụng ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba; quy địnhchung về pháp luật áp dụng cho hợp đồng sẽ điều chỉnh toàn bộ mọi vấn đề liênquan đến hợp đồng, kể cả hình thức của hợp đồng. Hình thức hợp đồng phù hợp vớipháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thứccủa hợp đồng cũng được công nhận tại Việt Nam; trường hợp các bên không chọnpháp luật áp dụng thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi có quan hệgắn bó nhất với hợp đồng đó (pháp luật nước nơi có quan hệ gắn bó nhất với hợpđồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụnghoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng lao động và tiêu dùng);

- Đối với BTTH ngoài hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận chọnluật áp dụng đối với việc BTTH ngoài hợp đồng, trừ trườnghợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có cùng nơi cư trú hoặc thành lập thìpháp luật áp dụng là pháp luật của nước đó. Trường hợp các bên không chọn phápluật áp dụng, pháp luật nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được ápdụng.

VI.PHẦN THỨ SÁU “ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH”

Phần này quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp. Trong đó:

- Bộ luật có hiệu lực thi hànhtừ ngày 01/01/2017.BLDS 2005 (Luật số 33/2005/QH11) hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật có hiệu lực;

-Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thìviệc áp dụng pháp luật được quy định như sau:

+Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quyđịnh của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định củaBộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chitiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11, trừ trường hợp các bên của giao dịch dânsự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch đểphù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này.

Giaodịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định củaBộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các vănbản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11;

+Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung vàhình thức phù hợp với quy định của Bộluật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này;

+ Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luậtnày có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chitiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 đểgiải quyết;

+Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.

- Không ápdụng Bộ luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụviệc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự trước ngàyBộ luật này có hiệu lực.

Những tệp tin đính kèm:

©TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH - Địa chỉ: 312 Lý Thường Kiệt - Phường Bắc Lý - Thành phố Đồng Hới - Quảng Bình
Email: quangbinhuni@qbu.edu.vn - ĐT: 0084.0232.3822010 - Fax: 0084.0232.3821054
Design by : Bộ môn Tin học Trường Đại học Quảng Bình